Nên hay không nên tăng thời gian làm thêm giờ?
Làm thêm giờ là khoản thời gian làm việc thêm, ngoài giờ làm việc bình thường được quy tại Điều 106 Bộ luật Lao động 2012. Để làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của người lao động, bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 1 năm.

Nhiều doanh nghiệp có ý kiến, thời gian làm thêm từ 200 đến 300 giờ được quy định hiện nay là thấp, và kiến nghị tăng lên thành 360-400 giờ mỗi năm. Đây là quá trình thương thuyết về quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động, nhà nước có vai trò trung gian.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đơn vị đại diện cho doanh nghiệp cho rằng: “Điều 106, Bộ Luật Lao động quy định thời gian làm thêm giờ không quá 200 - 300 giờ/năm.. chưa đảm bảo tính hợp lý, cản trở đáng kể cho hoạt động của doanh nghiệp vì số giờ làm thêm cụ thể trong một ngày nên để hai bên tự do thỏa thuận, tùy thuộc vào nhu cầu công việc. Nhà nước nên đặt giới hạn tối đa về giờ làm thêm trong một tháng hoặc một năm vì nhiều trường hợp, doanh nghiệp nhận được đơn hàng lớn, cần huy động người lao động làm thêm giờ trong một khoảng thời gian. Hơn nữa, nhiều trường hợp người lao động chủ động muốn làm thêm giờ do họ được hưởng lương cao hơn, có thể được công ty trả tiền bữa ăn tối. Bên cạnh đó, nhiều chủ sử dụng lao động phải thuê thêm công nhân, đi kèm với đó là rất nhiều chi phí về đào tạo, bảo hộ, phúc lợi..Người lao động có thời gian thừa, rảnh rỗi mà không được phép tận dụng để lao động kiếm thêm thu thập”

Trên thực tế, xu hướng giảm giờ làm là xu hướng tiến bộ của loài người trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất, đảm bảo tăng năng suất lao động, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp nhưng duy trì được sức khỏe, khả năng tái tạo sức lao động cũng như có thời gian chăm sóc sức khỏe gia đình và các điều kiện xã hội của người lao động.

Tình trạng làm việc theo tính chất dây chuyền hiện nay khiến nhiều lao động không chịu đựng nổi, dẫn đến suy kiệt sức khỏe, chưa kể khả năng dinh dưỡng cho người lao động còn đang bị hạn chế. Tăng thêm thời gian làm việc, nhưng năng suất lao động của người Việt Nam thấp không phải do lỗi chỉ ở người lao động mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như môi trường làm việc, trang thiết bị máy móc của doanh nghiệp. Nếu chỉ đáp ứng nguyện vọng một phía cho doanh nghiệp thì sẽ thiệt thòi cho người lao động. Áp lực làm việc, làm thêm càng lớn có thể dẫn đến tai nạn lao động càng cao.....

Chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được hình thành trên cơ sở cả sinh học, tâm lý và kinh tế xã hội có liên quan đến quyền và lợi ích thiết thân trong quan hệ lao động, được người lao động và cả người sử dụng lao động cùng quan tâm.

Kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy, hệ thần kinh của con người hoạt động theo chu kỳ sinh học. Một con người bình thường dành ít nhất 8 giờ đồng hồ để ngủ mỗi ngày, số giờ còn lại sẽ dành cho làm việc và tái tạo sức lao động. Vậy giờ làm việc bao nhiêu là đủ? Lao động đến một mức nào đó thì cảm giác mệt mỏi sinh lý bắt đầu xuất hiện. Đó là một cơ chế bảo vệ, bắt cơ thể ngừng hoạt động để khỏi kiệt sức. Để có thể làm việc hiệu quả, người lao động phải có thời gian nhất định giành cho nghỉ ngơi. Đó chính là giai đoạn mà người lao động tái sản xuất sức lao động. Như vậy, thời giờ làm việc là có giới hạn.

Theo xu hướng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, số giờ làm việc một ngày có xu hướng giảm từ khoảng 18 giờ/ngày ở thế kỷ thứ XIX xuống đến nay còn khoảng 8 giờ/ngày. Tổng quỹ thời giờ làm việc của một người càng lớn thì số người cần sử dụng để hoàn thành công việc đó càng ít. Người lao động kiệt sức, không có cả thời gian trông con và chăm sóc cho con cái. Thế giới xuất hiện tình trạng thất nghiệp một phần vì số người lao động thì nhiều mà số chỗ làm việc thì ít. Để giải quyết quan hệ lao động này, các tổ chức của người lao động đấu tranh đòi rút ngắn hơn nữa thời gian làm việc trong ngày hoặc trong tuần với sự chấp nhận của người sử dụng lao độngđảm bảo thời gian lao động “thặng dư”.

Năm 1935, ILO thông qua Công ước số 47 về tuần làm việc 40 giờ, năm 1962 lại còn khuyến nghị 116 về giảm thời giờ làm việc. Nay đã có một số nước thực hiện tuần làm việc 36, 39, 40 giờ và mỗi tuần làm việc 5-4 ngày. Ở nước ta hiện nay đã và đang thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ trong khu vực nhà nước.

Các điều kiện và nguyên tắc làm thêm đến 200 giờ trong một năm

Điều 106. Bộ luật Lao động 2012 quy định

 1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

 2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

 a) Được sự đồng ý của người lao động;

 b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

 c) Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.”

Các điều kiện và nguyên tắc làm thêm đến 300 giờ trong một năm

Điều 4 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP quy định

1. Số giờ làm thêm trong ngày được quy định như sau:

a) Không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; khi áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;

b) Không quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.

2. Việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm được quy định như sau:

a) Các trường hợp sau đây được tổ chức làm thêm:

- Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản;

- Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

- Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.

b) Khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quản lý nhà nước về lao động tại địa phương.

3. Thời gian nghỉ bù theo Điểm c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật lao động được quy định như sau:

a) Sau mỗi đợt làm thêm tối đa 07 ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động nghỉ bù số thời gian đã không được nghỉ;

b) Trường hợp không bố trí nghỉ bù đủ số thời gian thì phải trả lương làm thêm giờ theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật lao động.